Tác động ngay trên mẻ cá, luống rau…
Thưa bà, đã có một nghiên cứu cho thấy: 40% dân chưa bao giờ nghe nói đến BĐKH, trong số 60% còn lại, khoảng 35% có nghe nhưng không hiểu, còn lại nghe nhưng hiểu rất lơ mơ. Là người tham gia tuyên truyền về BĐKH trong thời gian qua, bà bình luận gì về những con số này?
BĐKH đã được thế giới quan tâm từ lâu. Qua 4 đợt báo cáo cho Ủy Ban liên chính phủ về BĐKH, mà báo cáo gần đây nhất là năm 2007 với sự chung sức của khoảng 2.000 nhà khoa học, một lần nữa khẳng định đó là chuyện có thật. Còn với những người dân, người ta vẫn đặt ra câu hỏi: đó có phải là câu chuyện quá xa vời hay không? Vậy hãy thử cùng nhau phân tích xem nó thật đến đâu, hiện hữu đến đâu.
Đối với cấp quốc gia, các nhà khoa học cho rằng, Việt Nam được dự đoán là 1 trong 5 nước bị ảnh hưởng nhiều nhất do BĐKH. Nhưng xin lưu ý, điều đó không đồng nghĩa với việc Việt Nam là quốc gia gây ra nhiều tác nhân của BĐKH nhất. Rõ ràng, cảm giác chúng ta đang là nạn nhân nhiều hơn là thủ phạm. Việt Nam có khoảng 20 triệu dân sống giáp biển với 28 tỉnh ven biển. Sự tác động hiện hữu ở nhiều khía cạnh.
Thứ nhất: nhiệt độ thay đổi theo xu hướng tăng lên, đi kèm với nó là lượng mưa thay đổi. Như vậy, năng suất cây trồng, vật nuôi sẽ bị ảnh hưởng rất nhiều bởi mỗi cây, mỗi con chỉ sinh sống ở một nhiệt độ nhất định. Chất lượng cuộc sống, chất lượng bữa ăn của những gia đình này sẽ thay đổi hiển hiện, có thể nhìn thấy. Sự thay đổi này còn kéo theo những phản ứng dây chuyền là hạn hán, lũ lụt... Đó chẳng phải là tác động của BĐKH hay sao? Ở Việt Nam cũng có thể nhìn thấy những hình thái khí hậu cực đoan, ví dụ như mùa thu mà vẫn còn rất nóng, mùa hè có những thời điểm nhiệt độ lên đến 40 - 41oC, rồi bão to lũ lớn...
Còn một dự báo được nhắc đến khá nhiều khi nói về BĐKH đó là mực nước biển dâng cao. Nước biển dâng cao thì người bị tác động đầu tiên là dân ven biển. Họ sẽ bị mất nơi cư trú, phải di chuyển, kèm theo đó là vấn đề kinh tế xã hội, an ninh lương thực, chỗ định cư. Chịu nguy cơ đặc biệt là vùng đồng bằng Sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long.
Tuyên truyền nhưng đừng để người dân sợ hãi
Bà có nghĩ rằng, hiện nay phương pháp tuyên truyền của chúng ta về BĐKH chưa đúng phương pháp?
Như tôi đã khẳng định, BĐKH là điều không xa vời. Tuy vậy, theo tôi, khi chúng ta tuyên truyền về nó cũng đừng có thái quá. Đừng biến nó thành mối đe dọa khủng khiếp khiến người ta sợ hãi. Cần phải hiểu về nó đúng mực để có những hành động đúng. Theo tôi, hiện nay ở Việt Nam mới chỉ đang trong quá trình xây dựng và chuẩn bị những ứng phó với BĐKH. Trong quá trình đó, thông điệp về tác động của BĐKH phải giản dị hơn nữa, gần gũi hơn nữa. Điều này, cần có sự tham gia hỗ trợ của các nhà khoa học để đưa ra những căn cứ, những con số thuyết phục hơn.
Ví dụ, nhiệt độ tăng lên 1oC thì cây gì con gì ở một vùng nào đó sẽ bị ảnh hưởng, cá ở vùng biển đó sẽ thay đổi như thế nào, loài nào sẽ xuất hiện mới, loài nào không thích nghi sẽ phải đi, ảnh hưởng đến sản lượng đánh bắt như thế nào... Những thông điệp gần gũi như vậy sẽ làm cho bà con nông dân, ngư dân thấy rằng câu chuyện BĐKH thực sự sát sườn cuộc sống của họ chứ không phải là câu chuyện của các nhà khoa học nghiên cứu cái này, cái kia.
Tuy nhiên về lâu dài và bền vững hơn, chúng ta nên hỗ trợ làm tăng sức đề kháng và khả năng phục hồi của người dân và đời sống của họ trước những BĐKH. Nói đơn giản như câu người ta vẫn nói: tìm cách sống chung với lũ. Để làm sao khi có bất cứ một thay đổi nào, họ cũng không bị động và có giải pháp phòng tránh và thích ứng.
Cụ thể việc tăng sức đề kháng ở đây là gì, thưa bà?
Ít nhất nó được thực hiện ở hai khía cạnh. Một là, người dân cần được hỗ trợ để có đời sống tốt hơn và ít bấp bênh hơn. Hai là, họ cần được hiểu biết và tiếp cận thông tin đầy đủ, chính xác và có khả năng tự phản ánh nguyện vọng, nhu cầu của mình đối với các bên khác. Trong các dự án hiện nay của MCD, đối tượng mà chúng tôi quan tâm chủ yếu là phụ nữ và người dân nghèo ven biển sống phụ thuộc vào biển.
Chúng tôi sẽ hướng dẫn họ các hình thức kiếm sống khác nhau thay vì phải phụ thuộc trực tiếp vào biển như trước. Tức là hỗ trợ người dân đa dạng hóa sinh kế. Ví dụ, họ có thể làm du lịch sinh thái, nuôi trồng thủy sản, làm nghề thủ công... Tất nhiên, những điều này phải được lồng ghép vào những hoạt động đang sẵn có mà họ vẫn đang thực hiện hằng ngày, sau đó mới phát triển rộng ra. Người dân được học tập, được tăng cường năng lực về kiến thức và kỹ năng, được tự xác định những khó khăn của mình và đề xuất phương án khắc phục, như vậy họ phát huy tính tự chủ và góp được tiếng nói với các thành phần xã hội.
Biến đổi khí hậu không phân biệt thành phố hay nông thôn
Như lúc đầu bà có đưa ra hình ảnh khá thú vị: dường như chúng ta đang là nạn nhân hơn là thủ phạm. Nhưng nếu nhìn trong phạm vi Việt Nam chúng ta, có cảm giác người dân thành phố, họ thụ hưởng sự tuyên truyền về BĐKH nhiều hơn người dân nông thôn. Ví dụ như Hà Nội, TPHCM... những thành phố phát triển thì cảm giác như sự BĐKH tác động ít hơn những vùng ven biển. Điều đó, cho thấy, những vùng chưa thấy sự hiện hữu của BĐKH nhiều hơn lại được tiếp xúc với thông tin của BĐKH nhiều hơn. Dường như các vùng khác nhau có sự quan tâm chưa tương xứng?
Nhìn về bề nổi hiện nay, tôi chia sẻ quan sát này với bạn. Song nếu tìm hiểu sâu hơn, điều đó không hẳn chính xác. Nhìn chung, việc phổ biến thông tin về BĐKH không nhất thiết phải phân biệt rạch ròi vùng thành phố hay nông thôn, miền núi hay đồng bằng và cũng không nên thế. Bởi thực sự nếu dự đoán của các nhà khoa học thành hiện thực, thì ở nước ta, tác động của BĐKH ở các vùng cũng chẳng thua kém nhau. Ví dụ, 7 triệu dân ven biển hay đồng bằng thấp bị mất nơi cư trú, mất đất sản xuất thì sẽ lập tức có sự di dân và những nơi khác cũng sẽ bị ảnh hưởng. Mà các đô thị ven biển của chúng ta cũng rất nhiều như Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Nha Trang, Vũng Tàu, TPHCM... đó là những thành phố khá sầm uất và nhịp độ phát triển cao. Như vậy bất kể nông thôn hay thành thị thì cũng cần phải quan tâm đến BĐKH và các tác động của nó.
Nếu như làm phép so sánh, theo bà, mức độ quan tâm và hành động để ứng phó với biến đổi khí hậu của Việt Nam so với các nước trên thế giới là như thế nào?
Theo tôi, ở Việt Nam những quan tâm và hành động ứng phó với biến đổi khí hậu vẫn đang ở những bước ban đầu, nhất là việc xác định tác động của BĐKH và phổ biến tuyên truyền rộng rãi để thu hút sự quan tâm chung. Song theo quan sát của tôi, chúng ta có được lợi thế là đi tắt đón đầu, được sự hỗ trợ của bạn bè quốc tế và đặc biệt là có sự vào cuộc rất quyết tâm của Chính phủ.
Chúng ta đã ký Nghị định thư Kyoto và có Ban chỉ đạo quốc gia thực hiện Công ước khung của Liên Hợp quốc về BĐKH và Nghị định thư Kyoto; Chính phủ đã giao cho Bộ Tài nguyên & Môi trường làm đầu mối quốc gia và đang xây dựng Chương trình mục tiêu quốc gia về ứng phó với BĐKH; một số bộ, ngành đặc thù cũng đang xây dựng chương trình ngành về nội dung này.
Tuy nhiên, ứng phó BĐKH là vấn đề toàn cầu và toàn quốc, do đó cần phải là công việc của toàn dân. Theo tôi, rất nên tích cực, linh hoạt, sáng tạo hơn nữa trong vấn đề tuyên truyền nâng cao nhận thức và kiến thức về BĐKH cho toàn cộng đồng. Các cá nhân, tổ chức trong nước tùy theo khả năng của mình đều có thể chung tay vào việc này.
Hiện nay, một số tổ chức phi chính phủ trong đó có MCD đã có sáng kiến thành lập "Mạng lưới các tổ chức xã hội dân sự Việt Nam và biến đổi khí hậu" dưới sự hỗ trợ của Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam, với mục đích kết nối nguồn nội lực để song hành và bổ trợ cho các hoạt động của Chính phủ thực hiện ứng phó với biến đổi khí hậu sao cho có hiệu quả nhất. Mạng lưới này sẽ ra mắt trong thời gian gần nhất và hy vọng sẽ thu hút được sự tham gia của nhiều thành viên.
Xin trân trọng cảm ơn bà!
Lê Hạnh
Nguồn: KH&ĐS, số 116, 25/9/2008, tr 14