Bí ẩn đại dương đang được giải mã
11:46' 14/10/2009

Những bí ẩn của đại dương đang dần dần được giải mã với sự phát triển phi thường của tri thức khoa học, PGS.TSKH Nguyễn Tác An, Chủ tịch Uỷ ban Quốc gia Chương trình Hải dương Học Liên Chính phủ Việt Nam, đã chia sẻ về những bí ẩn đang dần được giải mã.



Đại dương và những bí ẩn

- PV: Nói về biển, về những điều bí ẩn của đại dương chắc hẳn TS có nhiều điều để chia sẻ, xin TS chia sẻ một vài điều tâm đắt  nhất?

- PGS.TSKH Nguyễn Tác An: Các phương tiện thông tin đại chúng đã thống kê và công bố, thế giới tự nhiên hiện có đến 175 những điều bí ẩn,trong đó có 17 sự kiện  liên quan đến biển và đại dương. Phần lớn những bí ẩn của đại dương đều nói đến đại nạn, đến sự huỷ diệt khủng khiếp trong tích tắc…

Thực tế đúng là như vậy, trước sức mạnh của biển cả, của đại dương, con người  dù có cố gắng chống đỡ đến bao nhiêu cũng đành bất lực, bó tay. Nhưng những bí ẩn của Đại dương đang dần dần được giải mã với sự phát triển phi thường của tri thức. Chỉ còn là vấn đề thời gian!

Vì tất cả những gì xẩy ra trong tự nhiên, trong đại dương đều có nguyên nhân, có quy luật và có các mối tương tác nhân quả. Có điều, chúng ta chưa có đủ thông tin và thời gian để làm sáng tỏ những cái gọi là "bí ẩn" đó.

Nếu được phép chia sẻ, tôi  chỉ có một điều, nếu chúng ta biết cách vén được bức màn thần bí, bí hiểm đang che phủ những hiện tượng bí ẩn quá khủng khiếp trong đại dương, chúng ta có thể tìm được nguyên nhân, am hiểu được cơ chế và biết đâu chúng lại là những tiền đề cho những ứng dụng to lớn phục vụ con người.

Ví dụ, những năm năm mươi, khi hải quân Mỹ tiết lộ những thông tin về sự biến mất hàng loạt phi đội máy bay, hàng chục tàu thuyền trên vùng biển Bermuda, vùng Bermuda trở nên bí hiểm, đáng sợ, nổi tiếng với tên gọi là "Vùng tam giác quỷ ".

Đây là một trong những vùng biển  nguy hiểm, khủng khiếp nhất đối với vận tải hàng hải, hàng không với hàng loạt vụ mất tích trong nháy mắt các tàu, thuyền, các phi đội khi qua đây không để lại một dấu vết, đầy bí ẩn. Hải dương học bắt  đầu khám phá với ba  giả thiết và các nghiên cứu thực nghiệm đã thu  được ba kết quả, có giá trị thực tiển to lớn.

Thứ nhất là đã làm rõ những  tác dụng "đến lạnh gáy" của loại điện từ gọi là "điện từ kích biến": Sau khi bị tác động, con người có thể bị mất trí, thậm chí có người bị chết đột ngột, có một số người lại có thể duy trì trạng thái và năng lực "ẩn hiện" trong đời thường: lúc biến mất, lúc xuất hiện, làm cho mọi người xung quanh hết sức lo lắng và sợ hãi.

Thứ hai là khả năng "xuất hiện các vòng xoáy kích thước vừa" ngay trong lòng biển, di chuyển với tốc độ cực nhanh, xoáy theo chiều kim đồng hồ với tổng năng lượng khoảng 4,5 triệu tỷ Kj, tương đương với cơn bão hạng trung.

Thứ ba là khả năng thoát khí methan, dấu hiện tiềm ẩn của một kho tàng   nhiên liệu mới "băng cháy-methane hydrate ", (cần lưu ý, 1 m3 băng cháy, khi bị phá huỷ, sẽ giải phóng 164 m3 khí methan ).

Biển Đông của chúng ta có nhiều dấu hiệu đang tiềm ẩn một khối lượng lớn nguồn nhiên liệu "băng cháy ", do dó nếu bị "phá huỷ " vì một nguyên nhân nào đó- mà những nguyên nhân đó không thiếu trong tự nhiên và đang rất dễ bị kích hoạt do sự khai thác biển thiếu cơ sở khoa học của con người, sẽ dẫn đến những tai biến không lường cho các hoạt động phát triển.

- Những vấn đề nổi cộm của  đại dương mà loài người đã và đang, sẽ phải đối mặt, Việt Nam cũng không nằm ngoài bối cảnh chung đó?

- Vâng. Đúng như vậy! Trong thời  đại "toàn cầu hoá", trong thế giới  "phẳng"  đến từng "centimét",Việt Nam cũng không thể nằm ngoài những vấn đề nổi cộm  của đại dương mà loài người  đã và đang, sẽ phải  đối mặt.

Tất cả những vấn đề cấp bách, nổi cộm của đại dương thế giới đều đã dược thảo luận, giới thiệu và công bố rộng rãi, đặc biệt là trong gần 10 năm nay, khi chúng ta bắt đầu bước sang thế kỷ thứ XXI-thế kỷ của đại dương.

Cả thế giới đang lo lắng trước thực trạng "các nền tảng của đại dương cho sự tồn vong và phát triển của nhân loại đang bị đe doạ và  ngày càng  biến mất".

Ở đây, nên phải lưu ý Việt Nam có vị  thế địa lý rất đặc biệt, lại là  nước đang phát triển, gần 80% tổng giá trị kinh tế phụ thuộc vào các nguồn tài nguyên thiên thiên...

Tiềm lực, nhân lực đều ở mức khiêm tốn nên đối với ta, mọi thách thức  sẽ trở nên "to lớn", "nhạy cảm"  và "quyết liệt" hơn. Đặc biệt là sẽ khó khăn hơn rất nhiều nếu chúng ta chậm trễ trong  việc  nắm bắt và giải quyết các thách thức, các vấn đề nổi cộm, cấp bách.

- Việt Nam là một trong năm nước trên thế giới phải chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, nước biển dâng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến đời sống, nguồn lương thực? TS cảnh báo gì và biện pháp ứng phó cụ thể?

- Người Việt hay nói "thuỷ, hoả, đạo tặc ". Giặc "nước " là đáng sợ nhất. Đặc biệt  là đối với các vùng đất ngập nước (trên 3 triệu ha), bãi triều lầy (trên 1 triệu ha),các đồng bằng thấp ven biển miền Trung, đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long (trên 8 triệu ha), là những vựa lúa trù phú, góp phần bảo đảm an ninh lương thực cho chúng ta  và  thế giới.

Nước biển dâng, có thể ảnh hưởng trực tiếp đến 29 tỉnh và thành phố ven biển với số dân trên 45 triệu người. Có thể làm giảm mất đến 50% sản lượng lúa gạo. Đó là những nguy cơ tiềm ẩn làm mất ổn định, gây xáo trộn kinh tế, xã hội, làm mất an ninh sinh thái. Sự mất an ninh sinh thái là tiền đề của mất an ninh quốc gia.

Cũng như các nước  trên thế giới,Việt Nam đang nỗ lực xây dựng và triên khai một chiến lược tổng thể, một chương trình hành động khả thi để ứng phó với các nguy cơ do biến đổi khí hậu. Đó là thách thức mang tính thời đại. Ứng phó với "Khí hậu toàn cầu thay đổi",Việt Nam phải đối mặt với nhiều khó khăn,mang tính "địa phương ".

Đó là sự nhận thức, sự hiểu biết thấu đáo các quá trình tự nhiên, xã hội và sự đồng tình, tự giác của cọng đồng với tiếp cận "thích nghi, thích ứng ".

Hiệu quả của việc "ứng phó với sự thay đổi khí hậu"  phụ thuộc rất lớn vào các chính sách vĩ mô. Kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy, trong rất nhiều trường hợp cụ thể, thiệt hại do các tai biến thiên nhiên thường ít gây ra những hậu quả rộng lớn như những sai lầm về một số chính sách có tầm vĩ mô.

Việt Nam ta  phát triển từ những vùng "đầm lầy, sông, biển" với nền văn minh "lúa nước" độc đáo nên kinh nghiệm và truyền thống thích nghi,sống chung  với thiên nhiên, với "thuỷ tặc"  đã có bề dày hàng mấy nghìn năm. Có điều, chúng ta nên thông tin rộng rải cho mọi người hiểu thấu đáo các quá trình, những tác động có thể và những vùng có xác suất chịu ảnh hưởng lớn nhất.

Nghĩa là chúng ta phải cảnh báo cho cọng đồng những thông tin có giới hạn không gian và thời gian cụ thể. Muốn làm được điều đó chúng ta phải tập trung  nhân lực, nguồn lực và có sự phối hợp, hợp tác khu vực, quốc tế  hiệu quả trong một khung pháp lý và chính sách nhất quán, đồng bộ.

Việt Nam trong bối cảnh chung thế giới

- Các nước trên thế giới cũng đang tích cực hỗ  trợ Việt Nam trong kinh nghiêm, tiền bạc và  cả các thiết bị khoa học hiện đại để đối phó  với biến đối khí hậu, nước biển dâng. Để tận dụng được điều này theo TS nên làm theo hướng nào để có thể đạt được hiệu quả mong muốn.

Nhiều nước trên thế giới rất ưu ái Việt Nam. Họ đã và đang hỗ trợ chúng ta  rất nhiều về mọi mặt và trong nhiều lĩnh vực quản lý và phát triển kinh tế, xã hội, phát triển khoa học, công nghệ, quản lý bảo vệ tài nguyên và môi trường... Tôi nghĩ, sự giúp đỡ và tài trợ quốc tế đã có những tác động rất lớn cho sự phát triển của Việt Nam.

Những kết quả và hiệu quả của sự hợp tác, tương trợ quốc tế là rất đáng trân trọng và cần phải được khuyến khích, khích lệ, ghi nhận và phát huy. Có điều, trên thế giới này không có cái gì là vô hạn.

Tiền bạc, sức lực,trang thiết bị của cộng đồng quốc tế giúp ta cũng như vậy. Rất tiếc là trong thực tế, có một số dự án hợp tác quốc tế, sau khi kết thúc, nước ngoài rút đi, nhà nước chỉ còn lại trong tay một vài tài liệu, báo cáo và giá trị hiệu quả thực tiễn của dự án biến dần, không còn lại dấu vết gì đáng kể.

Nên chăng, trong những chương trình, dự án hợp tác quốc tế sắp đến, nhà nước, các cơ quan quản lý và triển khai  nên suy nghĩ, cân nhắc chọn lựa  và tập trung giải quyết một số ít những vấn đề hết sức cấp thiết và bức xúc đối với sự phát triển của Việt Nam.

Những vấn đề như vậy cần được thông tin,thông báo rộng rãi và  nên được tư vấn, thẩm  định, bởi một tập thể chuyên gia có trình độ, am hiểu thực sự. Và vấn đề đã được xác lập phải tiến hành thực hiện đến nơi, đến chốn.

Nhà nước, các cơ quan quản lý, thực hiện cũng phải chuẩn bị nguồn lực để tiếp tục phát huy hiệu quả dự án cho sự phát triển của đất nước sau khi nguồn lực của nước ngoài kết thúc.

Cũng đã đến lúc Việt Nam phải sánh vai trong các chương trình hợp tác quốc tế, theo tỷ lệ 50/50. Chỉ có điều, do thực tế của nến kinh tế Việt Nam hiện nay, giai đoạn đầu (pha I ) của dự án chúng ta sẽ triển khai bằng nguồn lực quốc tế, nhưng những pha tiếp theo,Việt Nam phải chuẩn bị nguồn lực đầy đủ để tiếp thu và phát triển các kết quả vào thực tế.

- TS cho biết một quốc gia nào đó trên thế  giới có kinh nghiệm về  vấn đề này hoặc một quốc gia tương tự  như VN mà phát triển kinh tế biển rất tốt.

- Phân tích, giới thiệu thành tựu phát triển kinh tế, nhất là kinh tế biển của một quốc gia nào đó là việc làm rất khó và cũng không ai giám qua  mặt các chuyên gia khác. Có điều, do hoàn cảnh công tác, có may mắn được đi nhiều, tham dự nhiều lớp tập huấn, nhiều hội nghị quốc tế và tận mắt chứng kiến,tôi thấy nhiều nước cũng có diện tích, dân số và vùng biển  không khác ta mấy.

Cách đây 50-60 năm, nền kinh tế của các nước đó cũng không hơn ta, nếu không muốn nói là còn thấp hơn Việt Nam như Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, v.v... Sau năm, sáu  mươi năm kiến quốc, hiện là những lãnh thổ có những thành tựu kinh tế, trong đó có kinh tế biển, đáng cho ta nghiên cứu, xem xét và tham khảo.

Có một điều, gần như chân lý mà ai ai cũng biết kinh tế biển là nền kinh tế của khoa học,kỹ thuật, của tiềm lực tài chính, quân sự và ngoại giao.

Bài học kinh nghiệm của nhiều quốc gia cho thấy, muốn phát triển kinh tế biển có hiệu quả, ít nhất phải chuẩn bị tốt ba việc: đều tra nghiên cứu đặc điểm tài nguyên, nguồn lợi, môi trường, làm cơ sở khoa học và công nghệ cho việc khai thác, quản lý và phát triển; Xây dựng được lực lượng cung cấp các dịch vụ công ích như đo đạc, thông tin, tư liệu và dự báo về môi trừơng bảo đãm an toàn cho khai thác và đề phòng, giảm thiểu những tác hại của tai biến thiên nhiên như lủ lụt, bão tố, bồi lấp, xói lở bờ biển, cửa sông, phòng ngừa dịch bệnh vật nuôi thuỷ sinh; Phát triển hợp lý các công trình ven bờ, dưới nước, cung cấp cơ sở và các kỷ thuật, công nghệ thông dụng, con giống, vật nuôi cho  việc triển khai các hoạt động khai thác biển...

- Xin cảm ơn TS về cuộc trao đổi

Hồng Minh
Theo Diễn đàn các Nhà báo Môi trường Việt Nam ngày 14/10/2009

Phim tài liệu trong khuôn khổ dự án "Hỗ trợ cộng đồng nghèo ven biển Việt Nam tạo dựng sinh kế bền vững và bảo vệ môi trường" hỗ trợ bởi EU và Oxfam