Dưới đây là cuộc trò chuyện với PGS.TSKH Nguyễn Văn Cư - Tổng Cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, xung quanh vấn đề này.
Thực trạng đào tạo nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế biển và hải đảo
- PV:Thưa Tổng Cục trưởng, công tác đào tạo nguồn nhân lực phục vụ quản lý nhà nước tổng hợp về biển và hải đảo ở nước ta hiện nay được triển khai ra sao?
- PGS.TSKH Nguyễn Văn Cư: Có thể thấy rằng tuy có nhiều cố gắng và đạt được nhiều tiến bộ trong đào tạo nhân lực phục vụ nghiên cứu và quản lý biển đảo nhưng công tác đào tạo cán bộ nghiên cứu và quản lý biển đảo của nước ta còn bộc lộ nhiều bất cập.
Đào tạo nhân lực biển đảo hiện nay tập trung chủ yếu vào lĩnh vực nuôi trồng, khai thác, chế biến thủy hải sản, khí tượng thủy văn biển, kỹ thuật tàu thủy, kỹ thuật xây dựng trên biển và giao thông vận tải trên biển.
Nhiều ngành đào tạo liên quan tới môi trường biển, sinh thái biển, địa chất, địa vật lý và khoáng sản biển, quản lý biển, quy hoạch phát triển kinh tế biển, luật biển và đặc biệt là ngành Hải dương học chưa có các chương trình riêng.
Đội ngũ cán bộ tham gia đào tạo nguồn nhân lực biển còn thiếu về số lượng và trong một số trường hợp chưa đáp ứng yêu cầu về chất lượng. Do vậy, nguồn nhân lực phục vụ quản lý nhà nước tổng hợp và thống nhất về biển còn thiếu và đại dương chưa đáp ứng được yêu cầu của chiến lược vươn ra biển do Đảng và Nhà nước ta đề ra.
Ngoài những vấn đề được nêu trên, một trong những vấn đề rất quan trọng ảnh hưởng tới số lượng, chất lượng đào tạo nguồn nhân lực phục vụ quản lý nhà nước tổng hợp biển và hải đảo ở nước ta là vấn đề công ăn việc làm.
Thực tế cho thấy số lượng công việc liên quan tới các lĩnh vực khoa học, kinh tế và quản lý biển còn nhiều hạn chế nên sinh viên được đào tạo theo các ngành này sau khi ra trường tìm được việc làm song công việc vất vả lại có thu nhập không cao. Do vậy, các ngành đào tạo về biển thường khó nhận được những sinh viên giỏi.
- Không chỉ đứng trước nguy cơ thiếu hụt nguồn nhân lực mà ngành Tài nguyên Môi trường biển (TNMTB) và Khí tượng Thủy văn biển (KTTVB) còn gặp phải vấn đề chất lượng nguồn nhân lực?
- Đúng vậy! Thực tế cho thấy, có một số bất cập hiện nay về cơ cấu ngành nghề đào tạo; cơ sở đào tạo dàn trải; bậc đào tạo chỉ tập trung ở trình độ đại học, chưa chú trọng đào tạo nghề và đào tạo chuyên sâu.
Đào tạo cán bộ TNMTB và KTTVB còn manh mún, dàn trải ở nhiều cơ sở. Mỗi cơ sở chỉ thực hiện đào tạo một số ngành hoặc chuyên ngành với số lượng sinh viên không nhiều. Ở các cơ sở đào tạo đại học, chưa có một cơ sở đào tạo thực hiện nhiệm vụ đào tạo với đầy đủ các lĩnh vực về TNMTB và KTTVB.
Các Sở Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) của các tỉnh có biển chưa có nhân lực làm việc trong lĩnh vực quản lý biển và hải đảo (chưa kể đến cấp huyện, xã).
- Vậy việc đầu tư cho đào tạo nhân lực ngành thế nào?
- Hiện nay, sự đầu tư cho công tác đào tạo nhân lực biển còn quá ít, máy móc thiết bị còn lạc hậu, kỹ năng thực hành chưa nhiều. Vì thế, sinh viên ra trường chưa đáp ứng được yêu cầu công việc, đặc biệt là trình độ ngoại ngữ, tác phong hàng hải quốc tế.
Bên cạnh đó, các chính sách lương thưởng, chế độ đãi ngộ cho lĩnh vực kinh tế đặc thù này còn kém hấp dẫn, khiến tình trạng chảy máu chất xám nhân lực sang các lĩnh vực, thành phần kinh tế khác khá cao. Với tình hình đó, rất có thể trong vài năm tới, sự thiếu hụt nhân lực sẽ tiếp tục, thậm chí ngày càng trầm trọng nếu không hành động sớm.
Hướng đào tạo
- Thưa Tổng Cục trưởng, tiêu chí cần để có nguồn nhân lực chất lượng cao?
- Phải là nguồn nhân lực được đào tạo một cách bài bản, có khả năng điều tra, nghiên cứu để tìm ra các quy luật tự nhiên, xã hội tại các vùng biển, hải đảo và áp dụng có hiệu quả các kiến thức nắm được vào việc quản lý khai thác bền vững các nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, tổ chức phòng tránh và khắc phục hậu quả thiên tai trên biển, hoạch định các chính sách, phân vùng quy hoạch phát triển bền vững các vùng biển, đảo, bảo vệ chủ quyền quốc gia và an ninh quốc phòng trên biển.
- Theo Tổng Cục trưởng, các ngành đào tạo cần được chú trọng thời gian tới?
- Nên tập trung vào các lĩnh vực như Hải dương học; Trắc địa bản đồ và môi trường biển; Sinh vật biển; Địa chất và khoáng sản biển; Kỹ thuật khai thác dầu khí và các khoáng sản biển; Kỹ thuật công tình biển; Kỹ thuật tàu biển, hàng hải; Du lịch biển; Phát triển kinh tế biển; Quản lý tổng hợp biển, đảo và đới ven bờ.
- Vậy hình thức đào tạo?
- Đào tạo nguồn nhân lực về biển rất quan trọng nhưng là một quá trình lâu dài cần được xây dựng thành một chương trình hay kế hoạch dài hạn, trong đó cần chú trọng côgn tác tuyên truyền và nâng cao kiến thức như đào tạo ngắn hạn cho cán bộ (tập huấn ngắn hạn, theo chuyên đề); Đào tạo kỹ thuật viên; Đào tạo kỹ sư và cán bộ quản lý biển; Đào tạo trên đại học về biển-đây là nguồn nhân lực có chất lượng cao, có khả năng giữ các vai trò lãnh đạo chủ chốt trong nghiên cứu khoa học và quản lý biển, hải đảo.
Để thực hiện các nhiệm vụ trên, yêu cầu trước hết là phải tận dụng tối đa các nguồn nhân lực trong nước, trước hết là các cơ sở nghiên cứu, các trường đại học trong nước. Để các cơ sở đào tạo trong nước có thể dần đáp ứng được yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cần phải có kế hoạch cụ thể và tăng cường năng lực, bao gồm đào tạo lại và nâng cao trình độ các cán bộ tham gia đào tạo cả ở trong và ngoài nước cũng như tăng cường cơ sở vật chất, thiết bị giảng dạy, đào tạo và nghiên cứu khoa học.
Nhìn ra thế giới
- Công tác đào tạo nguồn nhân lực biển và hải đảo ở nước ngoài được chú trọng thế nào, thưa Tổng Cục trưởng?
- Ở các nước có biển, đặc biệt là các nước phát triển như Nhật, Mỹ, Nga, Hàn Quốc, Anh, Pháp, Hà Lan…và một số nước trong khu vực như Trung Quốc, Singapo, công tác đào tạo nguồn nhân lực phục vu quản lý nhà nước tổng hợp về biển đảo được chú trọng đặc biệt. Việc đào tạo nguồn nhân lực chủ yếu được thực hiện tại các trường đại học. Thông thường, nguồn nhân lực được đào tạo tại hai ngành chính là khoa học và kỹ thuật.
Chuyên ngành kỹ thuật được phân chia thành hai nhánh chính là kỹ thuật ven bờ và kỹ thuật ngoài khơi. Ngành kỹ thuật ven bờ chủ yếu đào tạo cán bộ phục vụ các vấn đề quản lý đới bờ (chất lượng nước, quản lý chất thải), quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, phòng tránh thiên tai vùng ven bờ. Chuyên ngành kỹ thuật ngoài khơi bao gồm vấn đề xây dựng các công trình phục vụ phát triển kinh tế xã hội trên biển và ven các đảo ngoài khơi.
Các chuyên ngành khoa học rất phong phú, bao gồm các vấn đề khoa học khí tượng thủy văn biển, địa chất, địa vật lý biển, sinh vật, hệ sinh thái biển, tài nguyên và quản lý tài nguyên biển, môi trường biển, quản lý và phát triển kinh tế biển, luật biển…
Thực ra, các trường địa học chỉ trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản phục vụ công tác nghiên cứu khoa học và quản lý nhà nước về biển, đảo.
Sau khi tốt nghiệp đại học hoặc các chương trình sau đại học, những cá nhân được tuyển dụng trực tiếp vào làm công tác quản lý nhà nước thường được đào tạo và đào tạp kỹ năng quản lý nhà nước tại chính cơ sở làm việc thông qua sự hướng dẫn của các đồng nghiệp có kinh nghiệm, năng lực và trao đổi học hỏi kinh nghiệm của các chuyên gia nước ngoài.
Ngoài đào tạo, công tác nghiên cứu khoa học về biển cũng rất được chú trọng để cung cấp các cơ sở khoa học cho quản lý biển. Thông qua công tác nghiên cứu khoa học, người ta đã xây dựng được một đội ngũ cán bộ giảng dạy có trình độ chuyên môn cao, đáp ứng tốt nhu cầu đào tạo nhân lực.
- Xin cảm ơn ông về cuộc trao đổi!
Phương Minh
Theo Diễn đàn các Nhà báo Môi trường Việt Nam ngày 13/10/09