Nước ta đã có các Bộ luật như Bộ Luật Hàng hải, Luật Dầu khí, Luật Biên giới Quốc gia, các Nghị định quy định cụ thể về xử lý vi phạm hành chính trong các hoạt động liên quan đến biển như môi trường thủy sản, hàng hải, dầu khí, bảo đảm an ninh quốc phòng trên các vùng biển của Việt Nam.
Gắn với các tuyên bố, các luật và Bộ luật này là các Nghị định hướng dẫn chi tiết, cụ thể. Hệ thống pháp lý để quản lý biển đảo đã từng bước hoàn thiện và khá đầy đủ, được thế giới ghi nhận là một trong số ít các quốc gia có được hệ thống pháp lý về biển đảo đầy đủ như vậy.
Thế nhưng, ở tầm một Luật thống nhất về biển đảo, chúng ta lại chưa có được. Theo Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam Nguyễn Văn Cư, công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, từ Nghị định, Thông tư hướng dẫn, tới việc xây dựng luật và bộ luật về biển phải được coi là nhiệm vụ ưu tiên, nhằm hoàn thiện hệ thống pháp lý để quản lý thống nhất biển đảo.
"Việc ra đời luật quản lý biển là rất cần thiết. Bởi đó là luật gốc. Từ đây sẽ có các luật chuyên ngành tạo hành lang pháp lý cho từng lĩnh vực cụ thể như Luật hàng hải, Luật thủy sản hay Luật TN&MT biển đang được soạn thảo", Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam Nguyễn Chu Hồi khẳng định. Bộ Ngoại giao là đơn vị đầu mối soạn thảo dự án Luật Biển Việt Nam.
Để xây dựng một văn bản về luật biển không quá phức tạp, có sẵn nhân lực và các tiêu chí của Luật biển quốc tế, tuy nhiên, để luật biển có giá trị thực tế lại không đơn giản. Đặc thù của luật biển là không chỉ xử lý quan hệ trong nước mà liên quan đến nhiều nước khác nhau. Xây dựng luật biển phải tính toán đến phản ứng của các nước với luật biển của Việt Nam. Cần tính đến những vấn đề phức tạp của biển Đông khi có những vùng tranh chấp. Luật biển Việt Nam đang xây dựng phải đảm bảo xử lý tốt, tạo cơ sở pháp lý để Việt Nam hành xử trong điều kiện nhất định.
Theo ông Chu Hồi, Ban soạn thảo cần thể chế hóa được ba nội dung để Luật thực sự có giá trị thực tế và có yếu tố mới, phù hợp với yêu cầu thời đại. Đó là khi soạn thảo luật gốc cần phải tính tới sự phù hợp với các công ước quốc tế, thuận lợi cho các hoạt động trên biển; thể hiện chủ trương lấy đại dương nuôi đất liền; và Luật biển phải đặt việc bảo toàn, phát triển TN&MT biển vào trung tâm để "cây có quả mà hái mãi".
Hơn nữa, không gian biển nếu không được nhìn tổng thể và trong những mối tương tác nhất định thì chỉ có thể phát triển nó một cách manh mún. Nền kinh tế quốc gia phải gắn với kinh tế đại dương, gắn bờ với biển khơi... nếu không ta sẽ vừa mất cơ hội vừa mất quyền...
Hơn lúc nào hết, Việt Nam cần hành lang pháp lý cho việc tiến ra biển. Cần có Luật Biển Việt Nam để quản lý, khai thác và bảo vệ biển hiệu quả nhất, để Việt Nam trở thành một nước mạnh về biển vào năm 2020 như mục tiêu Nghị quyết 27/2007 của Chính phủ về Chương trình hành động về Chiến lược biển Việt Nam đến 2020.
Phương Trần
Theo Bộ Tài Nguyên và Môi Trường ngày 16/10/09