- Thưa PGS, hiện vẫn còn tình trạng vì sinh kế nghèo nên ở nhiều vùng biển, ngư dân vẫn đánh bắt thủy sản bằng phương pháp hủy diệt. Dù đã tăng cường kiểm soát nhưng chiều hướng vẫn không giảm. Tàu đánh bắt xa bờ ra khơi rồi lại quanh vào ven bờ khai thác khiến nguồn thủy sản ven bờ cũng bị tận diệt. Có giải pháp nào cải thiện tình trạng này?
Đúng là ngư dân nghèo khi bước chân xuống thuyền là họ "cột chặt cuộc đời với cánh buồm", trông chờ vào sự hào phóng của biển cả. Cho nên, mặc dù biết nguồn lợi cạn kiệt, khai thác như vậy là trái phép nhưng vì bản năng tồn tại và sinh kế gia đình, họ đã bất chấp tất cả, thậm chí sẵn sàng "thế chấp cả tương lai". Tuy nhiên, đừng quên rằng khi ra biển thì biển quyết định "vận mệnh" của người ngư dân, chứ không phải ngư dân chinh phục được biển.
Trong Quyết định phát triển thủy sản đến 2010, tầm nhìn đến 2020 của Thủ tướng Chính phủ đã đưa ra nhiều giải pháp: Kiểm kê chính xác tàu thuyền đánh cá, phân loại tàu thuyền theo công năng, đánh giá chất lượng ở các địa phương; giảm dần năng lực khai thác, thuyền nhỏ và quá tuổi lưu hành phải giải bản; quy định kích cỡ các loại tàu thuyền được phép đóng mới. Đồng thời với việc tăng cường quy chế cho phép các loại tàu thuyền được hoạt động ở các vùng biển khác nhau.
- Còn các nhà khoa học chuyên ngành, thưa PGS, khuyến cáo của họ?
Thực tế cho thấy, giải pháp nào cũng phải "đánh đổi" và cần đồng bộ. Tình hình nguồn lợi thủy sản biển hiện nay đòi hỏi phải có giải pháp "đột phá" và trước hết cần thay đổi tư duy của các nhà ra quyết định. Các nhà khoa học chuyên ngành có đưa ra nhiều giải pháp, song tất cả các giải pháp khi triển khai đều đụng đến một vấn đề hết sức quan trọng. Đó là phải giải quyết được vấn đề xã hội trong đó có sinh kế của người dân. Trước hết phải khơi dậy, phát huy nguồn lực trong dân, lấy dân làm nòng cốt. Làm sao để các vùng biển, dù lớn hay nhỏ cũng phải "có chủ" để tiến tới có một mô hình quản lý - "Nhà nước và nhân dân cùng làm" - đồng quản lý. Thứ hai là phải hội nhập ngay trên biển để lấp lỗ hổng về khả năng đầu tư, về yếu kém khoa học công nghệ.
- Là người có dịp tham dự nhiều hội thảo quốc tế về biển và mới đây là Hội nghị toàn cầu lần thứ IV về đại dương, vùng bờ và hải đảo được tổ chức tại nước ta, ý kiến nào của chuyên gia quốc tế nhận xét về việc quản lý biển nước ta khiến PGS lưu tâm?
Cách đây 20 năm, một luật gia biển người Canada đã nhận xét: "Việt Nam là một quốc gia biển lớn ven bờ biển Đông nhưng là quốc gia có trình độ khai thác biển lạc hậu nhất trong khu vực". Gần đây, có dịp đến hoặc quay trở lại Việt Nam làm việc với các cơ quan khoa học và quản lý biển Việt Nam, ai cũng thấy sự đổi thay, thấy Việt Nam làm được nhiều việc cho biển, chú ý đầu tư cho biển, trang thiết bị điều tra - nghiên cứu biển hiện đại hơn, trình độ cán bộ khá lên và một số đã tham gia vào các công việc của đại dương thế giới... Đặc biệt trong sự phát triển chung của nền kinh tế, kinh tế biển và ven biển đã đóng góp đáng kể.
Tôi cũng muốn chúng ta hãy nghĩ đến kinh nghiệm của Singapore. Lục địa của họ hẹp. Muốn phát triển phải ra biển, nhưng biển cũng "hẹp". Vậy áp dụng cơ chế chính sách nào? Singapore đã đưa ra yêu cầu "bảo toàn vốn tài nguyên biển". Tức là cá nhân, tập thể nào muốn khai hoang lấn biển, hoặc phải nộp "phí" đủ để di dời rạn sạn hô ra nơi khác, hoặc phải đóng lệ phí/ thuế để Chính phủ di dời nhằm bảo toàn "vốn sinh thái biển" - vốn mà quốc gia kiểm kê đã có, đảm bảo hệ sinh thái san hô trong quá trình phát triển, phải giữ được tối thiểu "nguồn vốn" đó.
- Quan điểm của PGS trong chiến lược phát triển kinh tế biển?
Chúng ta nên tính đến chiến lược sử dụng tài nguyên đặt trong bối cảnh an ninh về năng lượng, thực phẩm, lương thực. Muốn có được một nền kinh tế biển bền vững phải nhìn toàn cục, tất cả các vấn đề phát triển như môi trường và thị trường có quan hệ chặt chẽ ở tầm vĩ mô mang tính chiến lược và có những giải pháp đi kèm.
Biển khắc nghiệt đòi hỏi đầu tư rất tốn kém. Đầu tư khoa học công nghệ biển các nước bình quân cao gấp 50 lần Việt Nam. Cần có sự hợp tác đầu tư với nước ngoài và trong quá trình khai thác kinh tế biển đòi hỏi phải có trình độ công nghệ cao. Có hợp tác, có hội nhập trên biển thì chúng ta mới có được hiệu quả kinh tế biển trong từng lĩnh vực sản xuất và tổng hòa lại mới đóng góp được cho nền kinh tế.
Chúng ta đang đạt được những bước đi ban đầu đáng khích lệ, nhưng phải thật tỉnh táo, bình tĩnh để tính toán giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế biển với giảm thiểu tác động môi trường và rủi ro thị trường. Tài nguyên biển là "tài nguyên chia sẻ", môi trường biển chứa đựng yếu tố "xuyên biên giới" - tiền đề phát triển đa ngành, đa mục tiêu và phải hội nhập, hợp tác. Vì thế, cần phải quản lý biển theo cách tiếp cận tổng hợp, liên ngành và tăng cường hội nhập. Phải nhất quán trong chủ trương và kỷ cương trong hành động thì mới thực sự ra biển lớn thành công được. Hy vọng, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam ra đời sẽ hoàn thành sứ mệnh đó.
- Xin cảm ơn PGS.
Thanh Như
Theo Bộ Tài Nguyên và Môi Trường ngày 04/09/09